Bách khoa sức khỏe đàn ông – phần 5

Đăng bởi: Bác sĩ chuyên khoa

Chương II

VAI TRÒ CỦA DINH DƯỠNG, CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG HỢP LÍ

Quan tâm đến chế độ dinh dưỡng là một việc làm quan trọng và thông minh để nâng cao sức khỏe. Điều này không chỉ đơn thuần là ăn những thực phẩm cần thiết cho sự phát triển thể lực, mà còn làm tăng chức năng đàn ông cho bạn. Ngày nay khoa học đã chứng minh được rằng, chế độ dinh dưỡng phù hợp đảm bảo cho bạn tránh được những căn bệnh mãn tính, kể cả một số bệnh nguy nan.

Tham khảo thêm:

Bách khoa sức khỏe đàn ông – phần 4

che-do-dinh-duong
Nên có chế độ dinh dưỡng tốt để chăm sóc sức khỏe thật tốt

Trong hai thập kỉ gần đây chúng ta đã có rất nhiều lời khuyên về lựa chọn chế độ dinh dưỡng. Vô số các công thức ăn kiêng đã làm nhiều người quen quan tâm tới sức khỏe phải lúng túng. Áp dụng một chế độ dinh dưỡng hợp lí không quá khó như nhiều người vẫn nghĩ. Nếu trong thực đơn hàng ngày bạn ăn ít chất béo, nhiều các loại thực phẩm giàu hidrát cácbon là bạn đã chọn đúng. Bạn chớ nên thay đổi khẩu phần cơ bản nhiều quá và từ chối các món ăn ngon. Tôi giúp các bạn lựa chọn một chế độ ăn hợp lí, có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho một cuộc sống năng động.

MỤC ĐÍCH CỦA CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG

Chế độ ăn đủ dinh dưỡng phải đáp ứng các yêu cầu.

  1. Ngăn ngừa được bệnh tật do chế độ ăn bất hợp lí gây ra. Ở phương Tây, bệnh chính do chế độ ăn gây ra là xơ vữa mạch máu. Bệnh cao huyết áp và ung thư tuy tỉ lệ thấp hơn nhiều, song cũng cần phải lưu ý.
  2. Đảm bảo sự hoạt động bình thường của hệ tiêu hóa. Bạn phải thay đổi chế độ dinh dưỡng nếu bị táo bón, co thắt, đầy hơi, trĩ và những triệu chứng tương tự.
  3. Thức ăn không hợp khẩu vị gây ra chán ăn, cho thấy thức ăn không hợp khẩu vị bạn. Nếu bạn cảm thấy thức ăn nhạt nhẽo thì đó là dấu hiệu đầu tiên. Rất nhiều hình thức hoạt động bình thường không mang lại sự thoải mái (ví dụ các liệu pháp y tế), sự mệt mỏi (bài thể thao hàng ngày). Nhưng quá trình thưởng thức đồ ăn là một trong những khoái cảm của cuộc sống, vì vậy nó phải thực sự dễ chịu.
  4. Cung cấp đầy đủ số lượng các chất dinh dưỡng. Vấn đề này sẽ thực đề cập đến sau cùng vì nó dễ thực hiện nhất.

6 NGUYÊN TẮC CỦA CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG TOÀN DIỆN

– Nguyên tắc 1: Đa dạng hóa các loại thực phẩm.

Trong khẩu phần ăn cần có rau và hoa quả tươi, các loại bánh mì, các sản phẩm làm từ ngũ cốc xay, các loại thực phẩm có chứa đạm, các sản phẩm sữa là có thể có đủ chất mà cơ thể cần. Tất nhiên cũng có thể liệt kê cụ thể khẩu phần dinh dưỡng của một ngày.

– 250g bánh và bột.

– 500g rau

– 1000g hoa quả

– 3000g đạm

– 500g sản phẩm sữa

Không cần thiết phải nhớ định lượng. Hãy lựa chọn một cách thông minh cũng không cần ghi nhớ loại thực phẩm nào thì giàu (ví dụ) vitamin B2. Điều quan trọng là: chế độ dinh dưỡng toàn diện phải dựa trên sự đa dạng các loại thực phẩm.

Những bệnh trầm trọng do chế độ dinh dưỡng bất hợp lí gây ra là do ăn quá mức cho phép, nên hầu hết các nguyên tắc nói đến dưới đây là những điều nên tránh.

– Nguyên tắc 2: Giảm lượng thức ăn giàu đạm.

Bản thân lượng đạm thừa không có hại với một cơ thể khỏe mạnh, những thực phẩm giàu đạm, cung cấp nhiều calo (chủ yếu là thịt) thường có nhiều chất béo.

– Nguyên tắc 3: Tránh ăn mỡ, đặc biệt mỡ động vật.

Thực phẩm có chứa cholesterol, đặc biệt mỡ động vật được cơ thể chuyển hóa ngay thành cholesterol bám chắc vào thành mạch gây ra bệnh xơ vữa. Hàng chục năm các chất đó tích tụ lại quanh thành mạch gây cản trở lưu thông máu. Khi hiện tượng tắc mạch xảy ra ở tim gây nhồi máu cơ tim, xảy ra ở não gây xuất huyết não.

– Nguyên tắc 4: Hạn chế ăn đường.

Đường nói chung không có lợi, là nguyên nhân trực tiếp gây béo phì và sâu răng. Tuy nhiên tất cả các kết luận đều chỉ ra rằng, đường không gây ra các bệnh nghiêm trọng như tiểu đường, xơ vữa hay nhồi máu cơ tim.

Các bạn cũng chớ quên rằng ba chất cơ bản tạo vị ngon cho các món ăn là: mỡ, đường và muối. Trong ba chất trên thì mỡ là chất gây hại hàng đầu, nên chế độ ăn lí tưởng là ít mỡ. Bạn có thể không ăn hai chất còn lại (trước hết là muối), nhưng một chế độ ăn mà không có cả ba thành phần cấu tạo nên vị thì quá là khắc khổ với hầu hết mọi người.

Trẻ em dễ bị sâu răng và những người lớn đã thừa cân nên tránh ăn đường. Những người khác không cần phải quá kiêng cữ. Đường có trong nhiều sản phẩm của công nghiệp thực phẩm và có nhiều cái tên khác nhau. Đường đỏ

(chưa tinh chế), mật, xirô và mật ong – đều là đường. Đường đen còn có tên gọi là đường xacaro, glucoda, matoda, lactoda, phructoda, xirongo. Các loại rau đóng hộp, bánh mì, ngũ cốc đóng hộp để nấu cháo sáng thường có đường xacaro và glucoda.

Rất nhiều đồ ăn ngọt thực chất lại rất ít đường: hoa quả tươi, hoa quả khô, hoa quả đóng hộp bằng nước ép trái cây.

– Nguyên tắc 5: Hãy học cách ăn thức ăn giàu hydrat cacbon.

Ngày nay chúng ta coi trọng những thức ăn nhiều xơ. Các thực phẩm hỗn hợp gồm hoa quả, rau, hạt dẻ, hạt ngũ cốc, bột và bánh mì các loại, là chế độ dinh dưỡng lành mạnh mà người ta có thể chấp nhận. Người dân của xã hội có nền kinh tế thấp chẳng có gì để ăn không hề phàn nàn về các căn bệnh xơ vữa, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, họ không biết đến các bệnh xuất huyết não, táo bón, viêm ruột thừa, loét dạ dày, sỏi bàng quang, đau răng. Rõ ràng là trong cuộc sống của họ ít người mắc bệnh u ác tính nhưng họ lại là nạn nhân của cái đói, bệnh truyền nhiễm, nhiễm khuẩn.

– Nguyên tắc 6: Hạn chế ăn muối.

Thừa muối gây ra bệnh cao huyết áp.

Nếu như bạn không bao giờ ăn đồ muối, nấu ăn không có muối, không ăn đồ hộp, đồ hun khói, thực phẩm chế biến sẵn, các món ăn của hiệu ăn, đồ ăn nguội thì cơ thể bạn vẫn có dư thừa lượng natri. Đáng tiếc ngay từ nhỏ chúng ta đã quen với vị của muối, vì thế không ăn muối quả là vô vị. Mặt khác đó là một thứ gia vị trong đồ ăn. Hãy học cách thưởng thức vị ngon của các món ăn không muối. Mặc dù lời khuyên rất khôn ngoan, hầu hết các món ăn không muối không hấp dẫn, nhưng các thử nghiệm luyện cho bạn nhận ra vị ngon của nó.

TẠI SAO CON NGƯỜI CẦN CÁC CHẤT DINH DƯỠNG?

Đàn ông thường bị mắc nhiều bệnh có thể tránh được bằng chế độ ăn uống hợp lí. Ngay cả những người hoàn toàn khỏe mạnh lúc về già cũng có nguy cơ mắc những bệnh do chế độ ăn gây ra (ví dụ béo phì), bởi vì tuổi càng cao thì các bắp thịt (là nơi thải ra nhiệt lượng) càng teo đi, còn lớp mỡ (ít thải ra nhiệt lượng hơn) lại tăng lên. Khi bạn trên 60 tuổi bạn sẽ giảm đi 30% mức calo tiêu thụ.

che-do-dinh-duong-cho-dan-ong
Đàn ông thường bị mắc nhiều bệnh có thể tránh được bằng chế độ ăn uống hợp lí

Tất cả các cơ thể sống, để sản ra năng lượng đều phải đốt cháy thức ăn. Cần chú ý đây không phải là cách nói hình ảnh mà là sự miêu tả chân thực quá trình diễn ra trong cơ thể.

Những phân tử phức tạp chứa trong các thực phẩm bị phân giải và biến thành dioxit cacbon và nước, đồng thời giải phóng ra một lượng nhiệt mà ta cũng có thể thu được nếu đem đốt các chất đó trên lửa. Chỉ có điều trong các tế bào quá trình này cũng diễn ra chậm hơn. Bất kì loại thực phẩm nào mà cơ thể có thể đồng hóa và hấp thụ, có nghĩa là có thể đốt cháy, nếu chứa năng lượng. Các chất mà cơ thể không đồng hóa được, ví dụ một chất xơ và các chất không hấp thụ được (chủ yếu là các thành phần hóa học trong chè, cà phê) không chứa năng lượng.

Những sinh vật máu lạnh khi hoạt động cũng cần tiêu hao một lượng năng lượng như các động vật máu nóng hay chim, nhưng chúng gần như không tiêu thụ năng lượng khi ở trạng thái tĩnh. Các loài động vật máu nóng liên tục tiêu hao năng lượng; con người sử dụng 2/3 năng lượng chỉ để giữ cho cơ thể luôn cân bằng nhiệt. Đó là lí do tại sao người ta phải tăng cường các hoạt động thể thao để tiêu thụ lượng calo thừa.

– Đạm.

Đạm là những phân tử lớn và phức tạp cần thiết cho việc cấu tạo cơ thể (bắp thịt, da, thần kinh và duy trì sự phát triển của các tế bào trung bì, hoóc môn, men, máu). Thịt là nguồn cung cấp đạm dồi dào, nhưng trong tự nhiên đạm phổ biến đến mức, nếu bạn ăn nhiều loại thực phẩm phong phú khác, bạn không cần phải ăn thịt.

Lượng đạm mỗi ngày cho đàn ông là 45-60 gam. Những người không có chuyên môn thường không tin rằng, chỉ cần một viên thịt cừu băm trong khẩu phần mỗi ngày là đủ với nhu cầu về đạm của cơ thể. Dân của những nước giàu thường ăn quá nhiều đạm, gấp 2 đến 3 lần nhu cầu cần thiết. Đối với một người khỏe mạnh, lượng đạm dư thừa là vô hại, tuy nhiên cũng không có lợi vì cơ thể không dự trữ đạm mà chuyển đạm thừa thành cacbon và mỡ.

Những người tập thể thao tin rằng đạm làm phát triển cơ bắp. Thực tế đúng như vậy, nhưng thậm chí các vận động viên thể hình cũng chỉ làm cơ bắp phát triển có vài gam mỗi ngày, còn sau đó lượng đạm thừa cũng vô ích.

– Mỡ – chất béo.

Phân tử mỡ được cấu tạo từ một phân tử glixerin gắn với 3 phân tử của một trong ba axit béo. Trong y học mỡ được gọi là triglixerin. Ví dụ mỡ trong mỡ bò là glixerin và xtearin axit được gọi là trixtearin. Nhờ phương pháp thử triglixerin, người ta xác định được lượng mỡ trong máu. Nguồn cung cấp chất béo chính (ngoài thịt, trứng và sản phẩm sữa) là hạt dẻ và dầu thực vật.

Ngoài một lượng nhỏ chuyển thành cacbon, cơ thể chuyển hóa lượng calo dư thừa thành mỡ để dự trữ năng lượng. Khi đốt cháy một gam mỡ sinh ra 9 calo, còn 1 gam cacbon và đạm chỉ cung cấp 4 calo. Thậm chí ngay cả những người gầy nhất cũng có một lượng mỡ nhất định trong người, vì chúng ta dự trữ rất ít cacbon: mỗi cơ thể trung bình trữ 150 nghìn calo dưới dạng mỡ nhưng chỉ có 2 nghìn ở dạng các bon. Toàn bộ năng lượng dự trữ trong cacbon có thể tiêu nhanh chóng sau một ngày căng thẳng.

Ngoài chức năng dự trữ năng lượng, mỡ bao quanh thành mạch, thần kinh, và các cơ quan khác để bảo vệ chúng khỏi tổn thương và giữ ấm cho cơ thể. Mỡ phân bố khắp cơ thể (đặc biệt là màng tế bào và nhân tế bào) để tiết ra chất hóa học bảo vệ khi có sự cọ sát giữa các quan trọng trong cơ thể, ví dụ các tuyến hạch.

Thực đơn kiêng ăn chất béo rất phức tạp vì cơ thể tự tạo ra các phần tử glixerin và các axit béo từ những phân tử đơn giản. Rằng có hai loại axit béo là axit arachidonich và axit linoleic có trong hầu hết các loại thực phẩm nên không cần phải có chế độ đặc biệt để đảm bảo đủ lượng chất béo. Cũng không có chế độ cụ thể nào hạn chế mỡ, nhưng để chế biến các món ăn ngon mà lại ít calo – giảm 10% calo qua bỏ bớt mỡ – quả là khó.

– Hidrat cacbon và chất xơ.

Dạng hidrat cacbon quen thuộc nhất là đường, gồm những phân tử nhỏ được tạo nên qua quá trình tổng hợp dioxit cacbon (khí cacbonic) và nước khi quang hợp. Đường quan trọng nhất là đường gluco. Cây xanh nhận năng lượng nhờ quá trình đốt cháy hidrat cacbon và lại biến nó thành dioxit cacbon và nước. Các tế bào của người chỉ đốt cháy glucoda và tuy chúng ta cần cùng một lượng tương đương các dioxit các bon và các loại đường khác (phructoda, mantoda và xacaroda), nhưng cơ thể chuyển hóa tất thành glucoda để hấp thụ.

Các mạch cây phát triển bằng cách móc nối các phân tử đường để tạo nên các phân tử lớn hơn gọi là cacbon kép hay polixacarin. Cây thân gỗ cấu tạo từ các phân tử xenlulo – là các polixacarin không hóa tan. Một số polixacarin, ví dụ tinh bột, có vị ngon và được dùng làm thức ăn. Còn những chất khác (xơ, nhựa, than non) động vật bậc cao không tiêu hóa được. Thức ăn thô (chứa nhiều xơ) không cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể, nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong khẩu phần ăn. Những người ăn ít thức ăn thô hay mắc bệnh táo bón mãn tính. Số lượng thức ăn thô nhiều sẽ tạo ra lượng chất thải cần thiết để duy trì hoạt động của ruột và đóng vai trò bảo vệ mà chúng ta đã đề cập tới ở phần trên.

Cơ thể hấp thụ glucoda qua thức ăn nhanh đến mức chỉ vài tiếng sau bữa ăn, lượng glucoda đã tiêu hết. Người và động vật chuyển một phần lượng đường thành một loại cacbon phức tạp gọi là glucogen – dự trữ trong các cơ bắp và gan. Lượng dự trữ này đảm bảo cho cơ thể không phải phụ thuộc vào các nguồn cung cấp glucoda khác như đạm và mỡ. Khi cơ thể thiếu glucogen nó sẽ tự điều chỉnh từ các nguồn dự trữ này. Hiện tượng hạ đường huyết xuất hiện khi thiếu oxi trong máu làm chậm quá trình trao đổi chất gây ra buồn nôn. Khi cơ thể có đủ lượng hidrat cacbon tối thiểu (ít nhất là 15% lượng calo trong thức ăn mỗi ngày) sẽ tránh được hạ đường huyết. Cơ thể có thể bù bằng cách chuyển hóa mỡ. Khẩu phần tốt nhất là 50% lượng cacbon hidrat.

– Vitamin và chất khoáng.

Vitamin là các hợp chất hữu cơ dùng để liên kết các cơ quan. Cơ thể chỉ cần một lượng vitamin rất ít để tác động vào các phản ứng hóa học nhằm duy trì sự sống. Chất khoáng là các nguyên tố cơ bản như: sắt, đồng, canxi, v.v… Vitamin, chất khoáng, chất vi lượng có một vai trò cực kì quan trọng trong khẩu phần ăn.

– Vitamin A có tầm quan trọng sống còn đối với da và võng mạc mắt. Nguyên nhân gây ra mù mắt ở các nước nghèo là do thiếu vitamin A, một bệnh hầu như không có ở các nước phát triển vì vitamin này có trong rất nhiều loại thực phẩm: trong rau xanh, quả chín “Chứa caroten hay còn gọi là tiền vitamin A mà cơ thể có thể chuyển hóa thành vitamin A, hay trong các sản phẩm sữa, trứng, gan và mỡ cá (dầu gan cá). Các vitamin đóng vai trò thúc đẩy các phản ứng hóa học để duy trì hoạt động sống của cơ thể, nhưng nếu dùng quá nhiều vitamin thì cũng không thành siêu nhân, kiểu như kích điện cho ti vi cũng không làm cho nó rõ nét hơn mà cần phải gọi tới thợ sửa. Khi bác sĩ kê đơn vitamin A hay các sản phẩm khác của vitamin A để chữa các bệnh về da thì thực tế là các bác sĩ sử dụng độc tố của các chất đó, chứ không phải là tác dụng thông thường của vitamin.

Lượng vitamin A nên dùng mỗi ngày là 1,5 mg.

– Vitamin B1 hay còn gọi là tiamin là một phần hệ trong thống men thúc đẩy quá trình phân hủy glucoda và sản sinh ra năng lượng. Quá trình phân hủy glucoda là một phản ứng phức tạp gồm hàng chục giai đoạn. Rất nhiều các vitamin tham gia vào quá trình đó, mà nhờ đó năng lượng được sinh ra. Nguồn gốc đích xác sinh ra năng lượng là glucoda. Thiếu glucoda sinh ra mệt mỏi trầm trọng. Thật trớ trêu là các hiện tượng thiếu vitamin B1 rất đa dạng nhưng dạng thiếu năng lượng lại rất khó nhận ra.

Bất kì bác sĩ nào cũng biết đến tầm quan trọng của vitamin trong phòng và chữa bệnh, nhưng các bác sĩ điều trị ở các bệnh viện thành phố chỉ thấy có những biểu hiện thiếu vitamin ở những bệnh nhân nam tiêu phí calo do uống nhiều rượu mạnh.

Bệnh thường biểu hiện rối loạn hoạt động não, rối loạn hoạt động thần kinh, gây ra suy yếu cơ bắp, mất cảm giác, khó vận động, mê sảng. Chỉ cần một mũi tiêm bổ sung vitamin là có tác động rõ rệt ngay, từ đó ta thấy thiếu vitamin không phải là trạng thái mãn tính.

Lượng nên dùng mỗi ngày vitamin B1 là 1,5mg.

vitamin-b1
Nên cung cấp mỗi ngày lượng vitamin B1 là 1,5mg

Vitamin B2 hay còn gọi là riboflavin cũng là một chất quan trọng đối với quá trình chuyển hóa năng lượng và đảm bảo thị lực. Rất hiếm gặp bệnh nhân chỉ thiếu B2 mà thường gặp các bệnh nhân cùng thiếu nhiều chất do dinh dưỡng kém. Thịt, gan, cá, các sản phẩm sữa, hạt ngũ cốc, rau và trứng cung cấp đủ B2 cho cơ thể. Lượng nên dùng mỗi ngày B2 là 1,7mg.

Vitamin B6 hay piridoxal cũng đóng vai trò nhất định trong quá trình phân giải glucoda, nhưng nó quan trọng hơn trong phân giải đạm. B6 có trong thịt, gan, hạt ngũ cốc và rau. Lượng nên dùng mỗi ngày là 1,5 mg cho 100g đạm.

Cũng như với B1 và B2, rất ít khi gặp bệnh nhân thiếu B6. Vitamin này thường được dùng kèm các chế phẩm khác.

Ví dụ Idoniadit – một loại thuốc chống lao rất hiệu quả lại gây phản ứng ở một số người. Vitamin B6 có tác dụng ngăn chặn phản ứng, do đó người ta cho bệnh nhân dùng Idoniadit cùng với B6. Một số loại thuốc có tác dụng tốt khi dùng cùng với piridoxal cho nên các bác sĩ tăng liều B6 cho những bệnh nhân dùng penixilin, xicloxein hydralaga. Những phụ nữ mắc bệnh trầm cảm do dùng thuốc tránh thai, khi cho dùng bổ sung 50mg mỗi ngày sẽ cải thiện được tình trạng. Người ta cũng dùng B6 để chữa bệnh thiếu máu, nhưng nguyên nhân của bệnh không chỉ là thiếu B6, do đó người ta dùng B6 như một loại thuốc chữa bệnh chứ không phải là chất dinh dưỡng bổ sung. Lượng nên dùng mỗi ngày B6 là 2mg.

Vitamin B12 hay cobalamin có những đặc tính tuyệt vời. Nó không thể thiếu cho sự phát triển chiều cao và tái tạo tế bào của động vật, với con người nó đóng vai trò quan trọng trong sản xuất hồng cầu (eritromixin) và trong chuyển hóa các mô thần kinh. Thiếu B12 dẫn đến thiếu máu thường xuyên khiến cơ thể dễ bị suy nhược và bại liệt. Bệnh khá phổ biến và nguyên do không phải là thiếu B12 trong khẩu phần ăn, mà do rối loạn chức năng dạ dày. Dạ dày tiết ra một chất gọi là “tác nhân bên trong” kết hợp với B12 gọi là “tác nhân bên ngoài” nhận được từ thức ăn sẽ thúc đẩy quá trình thẩm thấu vào ruột non. Theo một số nguyên nhân chưa được phát hiện, một số bệnh nhân mất khả năng tiết ra tác nhân bên trong và do đó B12 sẽ bị thải ra ngoài qua hệ thống tiêu hóa không ngấm được vào ruột non.

Vào những năm 20 các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng cho bệnh nhân ăn một lượng lớn gan sẽ giảm nguy cơ thiếu máu. Chế độ dinh dưỡng đó có thể cứu được mạng sống, nhưng rất khó ăn. Thật may là các nhà bác học đã tìm ra phương pháp chiết xuất gan và từ chất chiết xuất đó tinh chế được B12. Những nạn nhân của bệnh thiếu máu ác tính (và bệnh đường ruột) luôn thấy khỏe mạnh nhờ những mũi tiêm B12.

Việc dùng B12 để chữa bệnh là một bước ngoặt trong lịch sử y học. Vào những năm 20, nhờ có sự trợ giúp của B12, các bác sĩ đã chữa được một số ca đặc biệt. Các nhà phẫu thuật đã quen với những chiến công thần kì (đau ruột thừa dẫn tới viêm nhiễm và tử vong, vì vậy chữa được viêm ruột thừa là một kì tích). Khi bác sĩ truyền cho một bệnh nhân nằm liệt giường chất chiết xuất từ gan thì chỉ vài ngày sau người bệnh vô vọng đã tươi tỉnh trở lại, thậm chí còn ra được khỏi giường và sau một tuần thì đi lại bình thường, sau một tháng họ có thể trở lại với cuộc sống vui vẻ.

Nguồn cung cấp B12 phong phú nhất là gan, nhưng thịt động vật, trứng và các sản phẩm sữa cũng đều có. Ngày nay hầu hết các khẩu phần dinh dưỡng đều có đủ B12, ngoại trừ những người ăn kiêng tuyệt đối cả trứng và các sản phẩm sữa. Họ phải dùng thêm B12, không nhất thiết phải tiêm. Lượng nên dùng mỗi ngày B12 là 2mkg.

Axit folic và B12 là 2 chất luôn cùng được nhắc đến trong bất cứ sách nào, vì chúng cùng tham gia vào quá trình sinh trưởng và tái tạo tế bào. Vắng hay hụt số lượng một trong hai chất đều gây ra thiếu máu hoặc tạo ra các hồng cầu nhân lớn bất thường. Mặc dù chúng giống nhau nhưng tính chất hóa học lại khác nhau. Tất cả các loại thực phẩm đều có folic ở dạng này hay dạng khác, đặc biệt trong rau xanh, gan, men, hạt dẻ, đỗ. Rất ít người thiếu axit foric, trừ những người nghiện rượu nặng và mắc bệnh đường ruột mất chức năng hấp thụ axit này. Dùng thuốc chống động kinh kéo dài hay thuốc tránh thai đôi lúc làm trung hòa tác dụng của axit folic gây ra căn bệnh nguyên hồng cầu khổng lồ.

Khác với B12, axit folic mang tính kháng thể. Phụ nữ có thai dùng axit folic để phòng dị tật bẩm sinh về thần kinh cho trẻ sơ sinh. Trong trường hợp những phụ nữ bị nghi ngờ có các tế bào tiền ung thư ở cổ tử cung, người ta điều trị ba tháng bằng cách cho dùng tăng cường 10mg/ngày axit folic, kết quả là các tế bào trở lại bình thường. Lượng dùng mỗi ngày 200mkg.

– Niaxin, nicotinic axit hay nicotinamid là một loại vitamin không có gì giống với nicotin trong thuốc lá, vì thế các nhà bác học đặt cho nó thêm một tên là niaxin để tránh nhầm lẫn. Niaxin thúc đẩy quá trình giải phóng năng lượng. Nguồn cung cấp chủ yếu là thịt, cá, ngũ cốc, rau xanh lạc, đỗ.

Thiếu niaxin sẽ bị mắc bệnh penlagra mà sinh viên trường y quen gọi là “bệnh 3D”: dermatitio (viêm da), diare (ỉa chảy), dementia (mất trí). Một số trường hợp viêm da như vết cháy nắng, ỉa chảy kèm theo nôn mửa, mất trí dẫn đến nói lảm nhảm và hoang tưởng. Bệnh penlagra xuất hiện tại những địa phương người dân ăn chủ yếu là ngũ cốc xay và ngô nhưng không ăn thịt. Để tổng hợp axit nicotin cơ thể cần triptofan, một trong 20 axit amin của đạm. Thịt, cá, gia cầm, lạc đỗ có chứa nhiều triptofan, trong đạm ngũ cốc có ít triptofan hơn. Để có đủ niaxin chỉ cần ăn một chút thịt và các thực phẩm khác trong khẩu phần, do đó bệnh này hầu như không còn là vấn đề.

Lượng niaxin cao giúp giảm lượng cholesterol trong máu và giảm nguy cơ bị nhồi máu. Niaxin là một chất rẻ, dễ kiếm dùng chống lại tình trạng cholesterol cao. Tuy nhiên các bác sĩ ít kê đơn này vì những tác dụng phụ của nó. Hầu hết bệnh nhân dùng liều cho phép (2.6g/ngày) đều bị mẩn đỏ và viêm da, ngứa. Một số bị đau dạ dày. Những phản ứng này có thể hạn chế được, nếu chia liều nhỏ uống sau bữa ăn và dùng kèm thêm aspirin. Lượng nên dùng mỗi ngày là 20mg.

Axit pantotenic tham gia vào các phản ứng phân giải hidrat cacbon và mỡ, tổng hợp hoóc môn và các chất khác. Một số tình nguyện viên đã tham gia thử nghiệm chế độ ăn trong vài tháng thiếu axit pantotenic, cảm thấy bị đau đầu, chóng mặt, co cơ, suy nhược và tệ nhất là mất cảm giác ở da.

Điều này chứng minh tầm quan trọng của axit pantotenic đối với cơ thể. Axit này có trong rất nhiều thực phẩm, đặc biệt là trứng, sữa và lạc. Lượng nên dùng mỗi ngày không cố định, nhưng các thí nghiệm cho rằng với người lớn là từ 4- 20mg/ngày.

Biotin (vintamin H) cũng tham gia vào các phản ứng phân giải hidrat cacbon và mỡ. Nó có trong: thịt, lòng đỏ trứng, các sản phẩm sữa, men, hạt dẻ và nó tự tổng hợp trong ruột già nhờ các vi khuẩn. Hầu hết các bệnh nhân thiếu biotin là do trong một thời gian dài ăn thức ăn tổng hợp. Triệu trứng bệnh biểu hiện qua bong tróc da, rụng tóc. Các biểu hiện trên biến mất khi cho dùng vitamin H. Lượng nên dùng mỗi ngày không xác định, nhưng theo đánh giá thí nghiệm liều đủ là 30 – 100 mkg/ngày.

Vitamin C hay còn là axit ascorbin cần thiết cho việc tạo ra và giữ vững cân bằng liên kết mô – các mô đàn hồi gắn các bộ phận cơ thể và lấp đầy khoảng trống giữa chúng. Các mô liên kết tạo nên các mạch máu, liên kết các bắp thịt với xương và giữa các xương vối nhau, từ các mô này tạo ra hầu hết tất cả da, trừ một lớp móng ngoài cùng là biểu bì.

Loại bệnh đặc biệt do thiếu vitamin C gây ra gọi là scobut (hoại huyết), xuất hiện trên các thủy thủ tàu buôn sống lâu ngày trên biển, thiếu thực phẩm tươi sống, ăn toàn đồ muối, thịt hộp, đậu khô, bánh mì và uống rượu. Triệu trứng xuất hiện theo tuần tự: mất sự liên kết giữa các mô dẫn đến xuất huyết dưới da, làm vỡ mạch máu dưới dạ, sưng và đau khớp, răng lung lay rồi rụng, da dễ bị tổn thương, vết thương lâu lành suy nhược. Tử vong xảy ra khi bị chảy máu bên trong.

Hầu hết mọi người đều biết rằng vitamin C có nhiều trong các quả họ cam quýt, nhưng cũng có cả trong các thực phẩm khác như thịt, sữa, rau. Ngày nay rất ít người bị mắc bệnh scobut, nếu có, thường thấy ở những cụ già cô đơn chỉ ăn các loại bánh kẹp, đồ ăn nguội và uống rượu.

Trong số các vitamin được kể đến thì B12 là để chữa bệnh của người già còn vitamin C cần cho giới trẻ. Lượng nên dùng mỗi ngày là 60mg.

– Vitamin D cũng chính là canxi feron, thực chất là một loại hoóc môn. Trong các điều kiện lí tưởng người ta không cần nó trong khẩu phần ăn, bởi vì da có thể tự tổng hợp được dưới nắng mặt trời. Sau đó nó di chuyển trong mạch máu tới các cơ quan khác của cơ thể gắn vào các tế bào thành chuỗi và tác động tới các tế bào đó.

Cùng với các hoóc môn khác, vitamin D điều hòa lượng canxi trong máu và trong xương, tác động quá trình thẩm thấu canxi và photpho trong thức ăn vào ruột non. Nguồn cung cấp chính là dầu cá, trứng và gan, nhưng ngày nay các thực phẩm đều có bổ sung thêm vitamin, nên cơ thể dễ dàng có đủ lượng cần thiết.

Nếu cơ thể thiếu vitamin D thì canxi và photpho trong thức ăn không thể hấp thụ được, do đó lượng canxi và photpho trong máu giảm, cơ thể tự điều chỉnh sự thiếu hụt bằng cách lấy canxi của xương làm cho xương trở nên xốp và giòn. Bệnh của trẻ em gọi là còi xương, của người lớn là loãng xương và nhuyễn xương. Ở các nước vùng nhiệt đới rất hiếm gặp bệnh nhân mắc bệnh thiếu vitamin D, thậm chí ngay cả những người nghèo, vì có nhiều ánh nắng mặt trời là nguồn biến cegoxterin của da thành canxi feron (thức ăn cũng có tác dụng như vậy). Để quá trình này xảy ra đòi hỏi phải có nhiều năng lượng mặt trời, cho nên thường không gặp dân xứ nóng bị thiếu vitamin D, trừ những hoàn cảnh đặc biệt.

vitamin
Nên cung cấp đầy đủ lượng vitamin mỗi ngày

Các bác sĩ chỉ định liều cao vitamin D trong điều trị một số bệnh về hoóc môn hay rối loạn chức năng thận nếu bệnh nhân bị thiếu canxi trong máu. Những bệnh như bệnh xương giòn không cần điều trị theo phương pháp này, do đó những người khỏe mạnh khi dùng quá nhiều vitamin D thì lượng can xi trong máu tăng đến giới hạn, quá mức nhu cầu của cơ thể. Trong trường hợp này canxi sẽ đọng lại ở thận (gây ra viêm hay có sỏi thận), ảnh hưởng đến các mô tim, phổi, da. Lâu dần dẫn tới mệt mỏi, đau đầu, ỉa chảy, nôn mửa. Đó là trường hợp ngộ độc do dùng vitamin D nguyên chất, nhưng nếu cơ thể tự hấp thụ từ nắng mặt trời, thức ăn và vitamin tổng hợp thì không bao giò xảy ra điều này. Lượng nên dùng mỗi ngày 400 M.E.

Vitamin E là chất chống ôxy hóa, một chất có tác dụng ngăn cản sự hình thành các chất bị ôxy hóa đồng thời tiêu diệt các chất ôxy hóa đã có. Trẻ thiếu tháng cần được bổ sung vitamin E để phòng chống bội nhiễm do bị thiếu ôxy mà trẻ rất cần để thở.

Vitamin E có trong ngũ cốc nguyên hạt, dầu thực vật, trứng, hạt dẻ và đỗ. Kết quả của một số người tình nguyện thí nghiệm áp dụng chế độ dinh dưỡng nghèo vitamin E làm các nhà nghiên cứu thất vọng vì họ không bị mắc bệnh gì cả. Qua đó có thể thấy vitamin E không có chức năng chuyển hóa đặc biệt nào. Ngược lại, nếu động vật thiếu vitamin E sẽ bị mắc rất nhiều bệnh, trong đó có bệnh vô sinh, teo cơ, đau tim và thiếu máu. Theo những người tình nguyện thí nghiệm thì vitamin E có thể làm tăng khả năng tình dục, phòng ngừa xơ vữa, chữa bệnh rung cơ, hồi sức nhanh. Người ta chưa chứng minh độ tin cậy của những tác dụng đó, nhưng tác dụng chống ôxy hóa của vitamin E đã đủ để chúng ta quan tâm tới nó.

Khác với vitamin A và D, dùng nhiều vitamin E là vô hại. Lượng nên dùng mỗi ngày là 30M.E.

Vitamin K tham gia vào hàng loạt các phản ứng phức tạp của quá trình đông máu. Thiếu vitamin K tình trạng chảy máu thường trỏ nên nguy hiểm. Nguồn chính là gan, rau xanh và các sản phẩm thịt. Các vi khuẩn trong ruột già tổng hợp đủ lượng vitamin K cần thiết cho nhu cầu của cơ thể, một lượng không xác định, vì thế có thể Lượng nên dùng mỗi ngày là 80mkg. Theo một số nghiên cứu khác thì vitamin K thiếu sẽ gây ra rối loạn hoạt động của mật, một chất làm cho thức ăn tiêu hóa được.

Ngoài vitamin, sự sống còn cần đến hàng chục các chất khoáng, chỉ cần một số lượng vi chất có hạn trong thức ăn hàng ngày đủ để phòng ngừa một số bệnh chỉ cần một số lượng vi chất có hạn.

Canxi là chất khoáng cơ bản tạo nên xương và răng, có trong máu và các dịch khác, tồn tại trong các tế bào và các mô. Nó đảm bảo hoạt động co cơ, cân bằng hệ thông thần kinh và cấu trúc tế bào, đông máu và các chức năng khác.

Các sản phẩm sữa, rau xanh, các loài nhuyễn thể nước ngọt, nước mặn, cá là nguồn cung cấp canxi dồi dào. Canxi có tác dụng chống ung thư ruột già, vì nó có thể tẩy độc trong ruột.

Lượng canxi trong máu thấp dần tới tình trạng co giật cơ bắp và thần kinh, ngứa, ù tai, run rẩy, là những bệnh nếu bị nặng sẽ dẫn tới động kinh và tử vong. Tuy nhiên cơ thể có khả năng tự điều chỉnh canxi tốt tới mức, các triệu chứng trên chỉ xuất hiện khi cơ thể quá thiếu hay trong trường hợp hệ thống hoóc môn không điều hành được (ví dụ sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến cận giáp trạng). Khi cơ thể thiếu canxi thì lượng chất khoáng này trong máu vẫn cân bằng do cơ thể điều từ xương, nhưng do đó mà gây ra bệnh còi xương hay xốp xương.

Thừa canxi cơ thể mệt mỏi, trì trệ, buồn nôn, rối loạn chức năng tiêu hóa (táo), loạn nhịp tim do canxi đọng trong xương và các mô. Những triệu chứng này không phải do chế độ dinh dưỡng gây ra, thậm chí ngay cả khi dùng bổ sung canxi quá liều. Hiện tượng thừa canxi do các u ác tính gây ra, còn hầu hết các trường hợp khác là do rối loạn hoóc môn, ví dụ thừa vitamin D. Lượng nên dùng mỗi ngày là 1,2g.

Một nguyên tử sắt nằm ở trung tâm gắn với 4 nguyên tử hemoglobin tạo nên hồng cầu vận chuyển ôxy từ phổi tới các mô. Nguyên tử này lại liên kết với một phân tử nhỏ mioglobin (globin cơ) là phân tử giữ ôxy trong các cơ và tạo ra màu đỏ.

Sắt có trong thịt, lòng đỏ trứng, ngũ cốc nguyên hạt, rau xanh, đỗ, hạt dẻ, nhưng cơ thể dễ hấp thụ sắt của thịt và trứng hơn là rau. Đàn ông khỏe mạnh thường không bị thiếu máu, nhưng những phụ nữ trẻ thường hay gặp phải rối loạn này vì khi bị hành kinh mất đi lượng sắt trong máu nhiều hơn so với lượng hấp thụ của cơ thể qua thức ăn.

Trong gan và lách có chứa 1g sắt. Sắt tồn tại trong các mô khác nhau của cơ thể. Do đó sắt nguyên chất là một độc tố đối với cơ thể như các loại kim loại khác. Thừa sắt gây hại cho tim (dẫn đến suy tim), gan (xơ gan), tuyến tuỵ (gây ra tiểu đường). Phụ nữ bị thiếu máu do thiếu sắt thường do bị mất máu khi thấy tháng, nhưng đàn ông nếu thiếu máu thường bệnh viêm loét hay u ác. Người ta cho dùng tăng lượng sắt để chữa bệnh thiếu máu, nhưng không chữa được bệnh hay chảy máu. Lượng nên dùng mỗi ngày là 12g.

– Kẽm tham gia nhiều quá trình tăng trưởng và tái tạo tế bào mô, nên trẻ em và phụ nữ mang thai cần một lượng kẽm rất lớn, nhưng đàn ông lại không cần. Da, màng thành ruột, tế bào miễn dịch và noãn được tái tạo rất nhanh, nên thiếu kẽm sẽ gây ra viêm da, lâu lành vết thương, rụng tóc, ỉa chảy, giảm khả năng miễn dịch và vô sinh. Những triệu chứng này biểu hiện ở một loại bệnh di truyền cũ có tên là viêm teo da đầu, chi, người bệnh mất khả năng hấp thụ kẽm, sau khi cho dùng kẽm liều cao, tình trạng biến chuyển rất nhanh.

Chỉ có dân các nước nghèo mới bị thiếu kẽm, vì các loại thực phẩm như thịt, sản phẩm sữa, ngũ cốc, hạt dẻ có chứa đủ kẽm. Tác động mạnh của kẽm với bệnh viêm ruột (giống như tác động của B2 với bệnh thiếu máu ác tính) là lí do người ta dùng kẽm để tăng khả năng thụ tinh, tăng tính miễn dịch, mau lành vết thương, đồng thời tăng sự mọc tóc và sắc mặt. Dùng kẽm trong một thời gian không nguy hiểm, nhưng các bạn chớ quên rằng kim loại rất dễ biến thành chất độc. Lượng nên dùng mỗi ngày là 15mg.

– Selen đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa ôxy, phân hủy peroxit và sự trưởng thành của tế bào.

Selen là một chất phổ biến trong thịt và rau nên hầu như không ai mắc bệnh thiếu selen. Selen giúp cho động vật chống virus và các hợp chất hóa học gây ung thư. Tác dụng này của selen với con người rất hạn chế, nhưng cũng theo kết quả của các nghiên cứu thì tỉ lệ mắc bệnh ung thư phổi, dạ dày, trực tràng, thực quản ở những địa phương nghèo selen trong đất khá cao.

Lượng selen cao rất nguy hiểm với động vật: tất cả động vật hoang dã uống phải nước thải của các trang trại có chứa nồng độ selen cao bị chết hàng loạt.

Magie tham gia vào cấu tạo răng và xương, là chất không thể thiếu để truyền các tín hiệu thần kinh, đồng thời nó đảm bảo sự cân bằng hoạt động tích cực của tim và cơ. Thiếu magie sinh ra suy nhược, run chân tay, lầm lẫn, làm căng cơ bắp và cơ trơn, nguy hơn có thể bị động kinh. Dùng liều magie cao sẽ có tác dụng làm giảm căng thẳng thần kinh và cơ bắp.

Ngũ cốc nguyên hạt, hạt dẻ, đỗ, thịt và hoa quả, là những nguồn cung cấp magie phong phú, vì vậy hầu như không một người đàn ông khỏe mạnh nào bị thiếu magie. Lượng nên dùng mỗi ngày là 400mg.

Iốt thuộc nhóm chất chỉ có một chức năng. Đó là chất không thể thiếu để đảm bảo hoạt động bình thường của tuyến giáp trạng, điều hòa hoóc môn đảm bảo mức độ tiêu hao năng lượng của cơ thể, nói cách khác, làm tăng sự trao đổi chất. Nguồn iốt chính là các loài rong biển, vì thế hiện tượng thiếu iốt trước đây khá phổ biến. Thiếu iốt làm tuyến giáp trạng phình to và cơ thể sẽ lấy iốt từ máu. Tuyến giáp trạng to ra gọi là bướu cổ. Trước đây bệnh biếu cổ phổ biến đến mức đã có thời người ta coi người có bướu cổ là đẹp.

Rối loạn chức năng tuyến giáp trạng gây ra buồn ngủ, chậm chạp, biếng ăn, táo bón, rét run, phù, da nhăn.

Dùng muối iôt là thắng lợi đầu tiên của chiến lược y tế cộng đồng thế kỉ XX. Thừa iốt với lượng ít không có hại, dung dịch iốt là chất xúc miệng vì nó làm tan đờm. Các bác sĩ chỉ định dùng iốt để chữa phế quản và hen. Lượng nên dùng mỗi ngày là 150mg.

Flo có trong răng, làm cứng men răng, chống sâu và hỏng răng sớm. Tuy flo có trong hầu hết các thực phẩm, nhưng nguồn cung cấp chính là nước, và các chế phẩm dùng bôi trực tiếp lên mặt răng bị hỏng men. Flo chỉ cần cho sự phát triển răng nên người lớn không cần dùng bổ sung flo vì răng sẽ mọc đầy đủ vào khoảng 14 tuổi.

Thừa flo sẽ làm xuất hiện những nốt trắng trên mặt răng, nhưng không ảnh hưởng gì sức khỏe. Lượng flo dư thừa quá lớn gây ra một căn bệnh nguy hiểm là can xi hóa xương, dây chằng và cơ bắp. Lượng nên dùng mỗi ngày tốt nhất là 1,5 – 4mg.

– Các vi chất như mangan, đồng, silic, crom, coban, và mêlipden cũng rất cần thiết cho cơ thể, nhưng chúng không ảnh hưởng tới sức khỏe như các chất kê trên. Thiếu niken, thiếc, vanadi, thạch tín cây cối và sinh vật hay mắc bệnh, nhưng chúng không ảnh hưởng tới đời sống của con người.

Để biết thêm thông tin về cách điều trị bệnh, bạn đọc vui lòng liên hệ:

PHÒNG CHẨN TRỊ Y HỌC CỔ TRUYỀN SƠN DƯỢC TÂY BẮC

Địa chỉ: N02, LK41, ngõ 22, đường Lê Trọng Tấn, P. La Khê, Q. Hà Đông, Hà Nội

Điện thoại: (024)22.132.333 – 0965.728.153

Bách khoa sức khỏe đàn ông – phần 5
0 / 0
Lượt đánh giá bài viết

Đặt mua thuốc

Đặt mua ngay

Click ngay !

Bình luận

Có thể bạn quan tâm